Đưa công nghệ thông tin về nông thôn

ND – Công nghệ thông tin (ICT) đang là một ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần rút ngắn khoảng cách về thông tin, kiến thức giữa các vùng, miền trong cả nước. Việc phát triển công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin để phổ biến kiến thức là mô hình đã được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện. Ở Việt Nam, đến nay tất cả các tỉnh thành trong cả nước có thể truy cập internet. Đặc biệt là mạng lưới hệ thống Điểm bưu điện văn hóa xã với hơn 10 nghìn điểm đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin đến với nông dân.
Đưa ICT về nông thôn là cần thiết Internet đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của nông thôn, giúp nông dân có thể học hỏi cách làm ăn, tìm nơi tiêu thụ sản phẩm từ những thông tin trên mạng để nâng cao giá trị cuộc sống. Đưa thông tin nông nghiệp nói chung và những thông tin khác giúp nông dân cải thiện cuộc sống dựa trên nhu cầu của họ, điều này cũng giúp nông dân làm giàu lên từ nông nghiệp. Qua những thông tin trên trang Web, người làm nông nghiệp có cơ hội tiếp cận với nhiều tài liệu, ấn phẩm tham khảo trên các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật. Nhờ internet mà nhiều người nông dân đã giàu lên từ những mô hình sản xuất mà họ học từ trên mạng, có cái nhìn nhạy bén hơn và mạnh dạn hơn trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại địa phương, nắm bắt được những kỹ thuật mới, giá cả thị trường, các mô hình sản xuất giỏi đạt hiệu quả cao góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương. Theo Ngân hàng thế giới (WB), ICT là một thành phần quan trọng trong việc loại trừ nghèo đói trên thế giới, đặc biệt với hơn 75% dân số ở vùng nông thôn, trong đó 85% trực tiếp và gián tiếp trong sản xuất nông nghiệp; và nhấn mạnh rằng các ứng dụng ICT trong công cuộc giảm nghèo phải thể hiện được vai trò cần thiết trong nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan như an ninh lương thực và đời sống của người nông dân. ICT sẽ giúp người nghèo nói chung và nông dân nghèo nói riêng rút ngắn “khoảng cách số”, tạo khả năng tiếp cận và chia sẻ “kiến thức, thông tin” về lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và các vấn đề khác của phát triển nông thôn như giáo dục, đào tạo, dịch vụ và thương mại điện tử… Ở nước ta, những chiếc máy tính nối internet tại các điểm Bưu điện văn hóa xã đã trở thành quen thuộc, một công cụ cần thiết của nhiều người dân muốn tìm kiếm thông tin. Trước đây, người dân chỉ tiếp cận thông tin qua báo, truyền hình và ra-đi-ô, không thể chủ động tìm kiếm thông tin cần thiết cho mình và mất rất nhiều thời gian. Còn nay, nhờ những chiếc máy vi tính, họ đã có thể tiết kiệm được thời gian cho công việc thường ngày. Với đặc thù hơn 80% dân số sống bằng nghề nông thì việc nối mạng internet đã giúp ích cho người dân rất nhiều. Những ai đã từng đi trên các con đường về ngoại thành TP Hồ Chí Minh những năm trước, bây giờ trở lại sẽ nhận ra sự thay đổi rõ rệt. Không khí “hiện đại” của các hàng quán, dịch vụ internet khiến miệt vườn không còn “xa xôi, cách biệt” như trước. Trên con đường nửa bê-tông sỏi và nhựa chạy vào ngã ba Chùa, ngã ba Giồng (xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn), hay ấp Đông Lân, Hưng Lân (xã Bà Điểm), một khu vực nhỏ mà có gần 10 tiệm internet hoạt động từ sáng đến khuya. Ở Củ Chi, nơi xa xôi phía bắc huyện như Thái Mỹ, Trung Lập Hạ, Trung Lập Thượng…, chiều về, sau ngày đi ruộng, nhiều lão nông tay cầm thuốc rê, tai đeo “hét-phôn” nói chuyện với con cháu đang lao động hợp tác ở nước ngoài bằng điện thoại internet. Mới đây, tại Điện Biên, Tổng Công ty Viễn thông Quân đội phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức Lễ bàn giao Mạng giáo dục tại tỉnh Điện Biên. Dự kiến từ năm học 2009-2010, 100% các trường học có điện lưới tại Điện Biên đều được sử dụng internet băng thông rộng phục vụ công tác quản lý, giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Như vậy, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh, thầy và trò vùng núi cao Tây Bắc còn nhiều khó khăn này đã có thể sử dụng internet trong công tác dạy và học ngay từ năm học mới 2009 – 2010. Cần một chính sách đồng bộ Theo Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin – Truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam đến năm 2020, để phát triển ứng dụng ICT, phải xây dựng và phát triển công dân diện tử; bảo đảm hơn 80% thanh niên ở các thành phố, thị xã, thị trấn có thể sử dụng các ứng dụng ICT và khai thác internet; từng bước đưa ICT vào đời sống của nông dân, thu hẹp khoảng cách số giữa nông thôn và thành thị; người dân được truy cập thông tin và tri thức kịp thời thông qua phát thanh, truyền hình, internet và các trang thông tin điện tử. Tuy nhiên, để việc đưa ICT về với người nông dân còn cả một chặng đường. Việt Nam được xếp thứ hai trên thế giới về tốc độ phát triển hạ tầng tin học, hệ thống internet đã triển khai xuống tận các thôn, bản, song, số lượng nông dân đến với loại ICT này rất khiêm tốn. Nông dân Việt Nam có xuất phát điểm khá thấp, trình độ chưa cao, kinh tế khó khăn… nên việc tiếp cận các kho kiến thức một cách bài bản từ máy tính hay internet để phục vụ cho sản xuất của họ rất khó khăn. Điều này cũng đòi hỏi sự chuẩn bị về nguồn nhân lực, trang bị kiến thức tin học cho người dân. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng khác là người dân phải được quyền sở hữu máy tính. Giá cả máy tính hiện đang là một rào cản của việc phổ cập internet tại các vùng nông thôn. Để “internet hóa nông thôn” nhiều quốc gia đã có hẳn chính sách hỗ trợ nông dân trang bị máy tính. Do phần lớn nông dân không có khả năng trả tiền bản quyền phần mềm thương mại, tiết kiệm chi phí sử dụng, chỉ dùng các ứng dụng cơ bản như: ứng dụng văn phòng, Web, mail…, những nhà tổ chức chương trình bán máy tính về nông thôn đề xuất máy tính để bàn sử dụng bộ vi xử lý giá rẻ, sử dụng phần mềm nguồn mở để giảm chi phí nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân ở các vùng nông thôn. Đây là mô hình mà Chính phủ Trung Quốc đang thực hiện, có chính sách trợ cấp cho người dân sống ở các vùng nông thôn mua máy tính. Theo đó, nông dân sẽ được giảm 13% giá trị của một bộ máy tính. Lenovo đã có kế hoạch bán số lượng lớn máy tính cho 320.000 làng ở Trung Quốc trong vòng ba năm tới với mức giá từ 365 – 511 USD một bộ. Từ trước đến nay, nhiều chương trình ứng dụng công nghệ thông tin vào nông thôn đã được triển khai, song kết quả còn khá khiêm tốn. “Phổ cập tin học” là một chương trình được Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở nhiều tỉnh, thành cả nước thực hiện nhưng chủ yếu chỉ mới dừng lại ở mức giới thiệu cho thanh niên nông thôn về máy tính và internet. Chương trình “Nông dân điện tử” cũng đã được tổ chức ở nhiều nơi từ lâu đặt mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho nông dân khai thác thông tin, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, song hiện vẫn chỉ là phong trào… thí điểm! Rất nhiều quận, huyện trên cả nước đã lập hẳn trang web riêng đều có phần hỗ trợ nông dân về nuôi trồng, nhưng có nông dân gửi câu hỏi thì hoặc không có hồi âm hoặc phải đợi cả tháng. Đặc điểm triển khai internet ở nông thôn có nhiều điểm khác biệt so với ở thành thị, người dân chỉ dùng internet khi họ cảm thấy thật sự cần thiết. Trong khi thông tin về nông nghiệp trên các trang internet bằng tiếng Việt quá ít. Do vậy, có xây dựng được kho thông tin cần thiết cho nông dân, việc thu hẹp “khoảng cách số” mới có hiệu quả. Có thể, đó sẽ là những tư liệu, kỹ thuật sản xuất trên mạng để người nông dân vận dụng, giúp lao động được hiệu quả hơn. Có thể, đó cũng sẽ là những kênh quảng bá để các loại nông sản được giới thiệu thương hiệu, hoặc trở thành môi trường giúp phát triển kinh tế nông thôn. Dự kiến Đề án phát triển Thông tin và Truyền thông nông thôn sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ vào cuối tháng 9-2009. Đây là một trong những đề án quan trọng đã được Chính phủ chỉ đạo, tập trung vào các nội dung: phát triển viễn thông, đưa internet về nông thôn, đầu tư có trọng điểm cho các điểm bưu điện văn hóa xã; xây dựng các cơ cấu kích cầu đầu tư, hỗ trợ dịch vụ viễn thông công ích cho vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Dự kiến, mục tiêu tổng thể của đề án sẽ là phát triển thông tin và truyền thông giai đoạn 2010-2015 nhằm đưa cơ sở hạ tầng mạng về đến xã, đưa dịch vụ thông tin và truyền thông đến người dân vùng nông thôn, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, xóa dần khoảng cách số giữa nông thôn và thành thị. Các mục tiêu cụ thể như bảo đảm 100% xã và phần lớn các trung tâm dân cư nông thôn được kết nối với mạng thông tin băng rộng đa dịch vụ; 100% xã, khu tập trung dân cư thuộc 61 huyện nghèo, các xã thuộc Chương trình 135 có Trung tâm thông tin phục vụ cộng đồng; mật độ thuê bao internet khu vực nông thôn đạt 15-20% so với mật độ bình quân toàn quốc… Rõ ràng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người nông dân với ICT. Để đưa được CNTT về nông thôn, nhất là về với địa bàn tương đối khó như đồng bằng sông Cửu Long, cần thực hiện đồng bộ một loạt giải pháp. Cùng với việc hiện đại hóa hạ tầng CNTT-TT, chính sách, cơ chế đặc thù cho nông thôn, tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận dịch vụ CNTT-TT nhanh hơn, rẻ hơn… cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; động viên, phát triển mạnh mẽ phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh tình nguyện phổ cập CNTT-TT cho nông dân. Việc tạo các phần mềm ứng dụng, các nội dung số, phát triển nội dung thông tin cần thiết, phù hợp, nhanh chóng triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu, xây dựng các giải pháp công nghệ và triển khai mô hình CNTT-TT phù hợp với khu vực nông thôn để đáp ứng nhu cầu của người dân nông thôn cũng cần được cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhận thức kịp thời, đúng hướng… Ngô Trường Tùng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *